Oẳn @ tà roằn

Posted: Tháng Bảy 24, 2012 in Uncategorized
Thẻ:

Con ai đây nhỉ???

Con ai đây nhỉ???

Với tay thả chỉ vàng vừa kiếm được vào con lợn đất, hôm nay cô có một khách sộp…

***

Có một thằng làm vàng nào đó trong vô số thằng đã đi qua đời cô, cô cũng không còn nhớ rõ, đã kể cho cô nghe một câu chuyện. Chuyện kể thế này:

“Có một anh chơi bời rất nhiều, một hôm ngồi suy nghĩ thấy hối hận vì đã mất quá nhiều tiền cho gái làng chơi. Bèn quyết định lấy vợ. Nhờ người mối mai, chọn qua, lựa lại, cuối cùng cũng kiếm được một cô. Vừa xinh đẹp, dịu dàng, lại nghe nói con nhà gia giáo. Mới chuyển từ Sài Gòn ra làm thư ký cho xếp của cái công ty to đùng, đóng ở mặt Hồ Gươm. Hai bữa ăn trưa, một tối xem ca nhạc, một đám cưới. thế là thành vợ thành chồng.

Kể từ ngày lấy vợ, chiếc giường của anh có thêm chiếc gối và ở đầu giường anh đặt thêm con lợn đất. Chiếc gối thì dĩ nhiên là để cho cô vợ mới cưới. Còn con lợn đất, cứ mỗi lần âu yếm vợ anh lại rút ví bỏ vào một tờ năm trăm ngàn đồng. Vợ anh cũng không thắc mắc gì.

Đến cuối năm, sau cái ngày cúng ông Công, ông Táo, anh đem con lợn đất ra đập. Số tiền có trong đó là ngoài sức tưởng tượng của anh. Hơn trăm triệu, lại có cả tờ một trăm, hai trăm ngàn. Chắc là những hôm say sưa bỏ nhầm cũng không chừng.

Hai vợ chồng bỏ hẳn cả một ngày để mua sắm mà vẫn không hết số tiền. Khệ nệ bê số đồ đạc vừa sắm vào căn hộ, mệt đứt cả hơi. Thấy anh có vẻ đăm chiêu, vợ anh hỏi:

– Có gì không anh yêu?

– À, không có gì. Anh chỉ thấy lạ, lần nào anh cũng bỏ một tờ năm trăm ngàn. Vậy mà hôm nay đập ra lại có cả tiền một trăm, hai trăm ngàn.

Vợ anh nguýt dài, phẩy tay.

– Ối dào, có phải ai cũng đàng hoàng như anh đâu. Có những thằng nó chỉ bỏ có một hai trăm thì cũng đành chứ biết làm sao.”

***

Kể từ đó cô không còn mở tủ cất chiến lợi phẩm sau những lần oằn mình rên rỉ mà miệng đắng ngắt, buồn nôn. Cô mua một con lợn đất, để ở đầu giường. Mỗi lần cho con lợn đất ăn, cô lại thầm cười vì nhớ đến câu chuyện trên như chút phần thưởng dành cho riêng cô vậy.

Cô thấy mình còn sạch sẽ, còn tử tế hơn chán vạn lần cái cô vợ con nhà gia giáo trong câu chuyện trên. Dù sao cô cũng rõ ràng, làm ăn đứt đoạn. Khách là khách, tình là tình. Chỉ duy nhất một trường hợp làm cô hơi thẹn với lòng, đó là thằng Hoài, trưởng thôn Đoài, cách đây gần một ngày đi bộ. Nói là thằng, nhưng lão này cũng cỡ ngoài năm mươi. Đối với cô, đàn ông già, trẻ, khỏe, ốm, khi lên giường cô gọi là anh, trong lòng cô coi là thằng hết. Lão người yếu như sên. Nhưng được cái đi bộ rất giỏi, mỗi tháng đều đặn lão đi bộ đến chỗ cô hai lần. Lão yêu cô. Về phần cô, cô chẳng có chút cảm tình gì với lão, có chăng chỉ là một chút lòng thương hại. Nhưng vì năm khối gỗ Gõ Đỏ lão mang cho cô cách đây hai năm. Cô tính rồi, dù đây là ở bìa rừng, gỗ hơi rẻ, nhưng có bán vội cũng được sáu mươi triệu. Sáu mươi triệu là một trăm hai mươi lần, đem chia cho hai lần một tháng, vị chi là sáu mươi tháng, là năm năm. Cô đành làm nhân tình cho lão trong năm năm vậy.

Cái quán nước tồi tàn nằm ngay lối vào xã Phước Sơn là nơi hai chị em cô sinh sống. Mẹ cô, bà Thanh, vốn là người Hà Nội, ăn chơi nổi tiếng một thời, nghe lời dỗ ngon ngọt của đám buôn lậu gỗ rồi vào tận đây định cư. Thực ra bà cũng chẳng có đường chọn lựa. Đám người buôn lậu gỗ đưa bà vào đây, dựng lên cái lều gỗ này, họ chuyền tay nhau cho đến khi bà chửa được năm tháng thì a lê hấp, họ trốn tiệt. Bà đành biến cái lều gỗ thành cái quán nước để nuôi sống bản thân và chờ ngày sinh đẻ. Bà đẻ ra cô, khỏe mạnh, kháu khỉnh. Bà lấy họ tên bà là Trần Thanh, đặt tên cô là Hoài Vọng. Cũng chẳng ai hiểu được bà đang hoài vọng điều gì? Sự hướng thiện? Một cuộc sống tốt đẹp hơn? Hay đơn giản chỉ là mong ước trả lại được cái họ thật cho đứa con vô tội này?

Kể từ đó bà căm thù đàn ông, bà thề sẽ không bao giờ quan hệ với cái lũ đàn ông bạc tình, bạc nết. Bọn họ chỉ biết xơn xớt đầu môi những khi cảm thấy thèm muốn bà, xong rồi lại ném bừa cái của quý vào đũng quần, khệnh khạng bước vội đi với trăm ngàn cái lý do còn quan trọng hơn cả việc cháy nhà.

Nhưng phụ nữ vẫn là phụ nữ, biết bao nhiêu quyết tâm, bao nhiêu căm hờn cùng cái lời thề cao vạn trượng hóa ra cũng chỉ bằng cái đầu gối đứa trẻ lên ba. Tè là ướt hết, nhòe nhoẹt hết!

Chỉ hai năm sau cái ngày cô ra đời, bà lại bước vào cuộc phiêu lưu tình ái mới. Lần này là đám người đào vàng, đúng hơn là các ông chủ vàng. Kể cũng lạ, ở Hà Nội, Sài Gòn, biết bao nhiêu người giàu có, nhà ngang dãy dọc, kệ trên két dưới, gara xếp hàng cũng cả chục cái xe đắt tiền. Nếu có đào xuyên qua nền nhà, sâu xuống lòng đất thì chỉ có mồ mả với nắm xương khô, nhà nào may mắn hơn thì có được chút bùn đen sạch sẽ của đầm lầy còn sót lại. Vậy mà ở đây, tại cái chốn khỉ ho, cò gáy, cái nơi mà quãng đường đi vẫn còn tính bằng con dao quăng, nhà nào khá giả tài sản có được cũng chỉ là vài con bốn chân thì đào xuống đâu cũng là vàng. Trong nhà vàng, ngoài đồng vàng, trên núi vàng, dưới khe cũng vàng. Người đổ về nườm nượp, cơ man nào là người. Cái vùng quê yên bình, lâu lâu mới có tiếng cưa máy của mấy anh lâm tặc ngày nào, giờ đây tiếng đào, tiếng cuốc, tiếng xay, tiếng đãi, tiếng kêu gào, thét mắng, đâm chém xen lẫn với tiếng khóc cười hỗn độn tạo nên một thứ âm thanh mà người dân ở đây vẫn gọi là “quân đào vàng”.

Moi đất, đãi vàng

Moi đất, đãi vàng

Bãi vàng

Bãi vàng

Bà có dáng người dong dỏng cao, da trắng, trông duyên nhưng hơi gầy. Từ ngày sinh con, bà lại có phần mập mạp, đẫy đà, trông còn tơ lắm.

Lại nói mấy ông chủ vàng, thời gian đầu ngày nào họ cũng ăn nhậu ở quán bà. Của ngon, vật lạ, đắt rẻ họ mua tất. Bà mua một, bán mười họ cũng mặc. Ăn nhậu say sưa xong là trả tiền, đôi lúc họ trả bằng vàng. Năm hoa, một chỉ, hai chỉ, quy đổi giá bao nhiêu cũng được, thậm chí nhiều khi còn thừa ra nửa hoa, một hoa họ cũng gửi bà luôn. Vậy là bà chết, chết đứ đừ! Chết bởi cân thịt rừng bán đắt, bởi mẩu vàng thừa hay là chết bởi cơn khát tình của người phụ nữ đang xuân, bà cũng không còn biết nữa.

Ông trời không thương bà, hay kiếp trước bà ăn ở có điều gì không phải. Bà lại rơi vào cái vòng luẩn quẩn. Em cô ra đời! Bế con trên tay, bà cố nhìn thật kỹ như mong tìm được nét quen, nhưng nhìn đi, nhìn lại, nhìn thẳng, nhìn nghiêng thì nó vẫn là cái giống “oẳn tà roằn”. Bà chịu, lần này bà đặt tên con là Trần Thanh Bình Yên. Lạy Trời Phật cho mẹ con bà được bình yên trong những ngày còn lại!

Thế rồi ba mẹ con cô cũng có được một quãng dài bình yên, cho đến cái ngày cách đây mười hai hay mười ba năm gì đó. Cô mười lăm, thường ngắm mình trong gương những khi một mình. Cô còn nhớ như in cái ngày trời nắng đến nỗi con chó vện chỉ nằm dưới gầm phản thè dài chiếc lưỡi đốm thở dốc, không thèm sủa mỗi khi có người lạ đi qua. Có một đoàn địa chất ghé lại, nghe nói họ sắp làm con đường ngang qua đây. Trong đoàn có một kỹ sư trẻ có cặp mắt buồn sâu thẳm giấu sau cặp kính cận. Đôi giầy vải màu xanh đã sờn. Anh ít nói, nhưng cái nhìn của anh như xuyên thủng vào tâm can cô. Cô mến anh.

Nhưng cái sự đời trớ trêu. Cái chuyện lạ nhất trong trí tưởng tượng còn non nớt của cô là chuyện về ông Thánh Gióng cũng không kỳ lạ bằng cái việc của buổi sáng ngày hôm sau. Dưới chân giường mẹ cô là đôi giầy của anh kỹ sư trẻ nằm ngay ngắn bên cạnh đôi dép mẹ cô vẫn thường mang. Hai người còn chưa thức dậy.

Cô tức tưởi chạy ra con suối gần nhà, ngụp trong dòng nước lạnh, cô khóc.

Cô trở về nhà lúc mặt trời đã quá bóng trưa, một vài anh trai trẻ cổ xủng xoảng những vòng vàng đang hò hét bên chén rượu. Em cô khóc. Cô nghe nói mẹ cô đã dọn đi theo đoàn địa chất.

Phước Sơn tháng 11 năm 2009.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s